Loading...
Trang chủ | Tin tức - sự kiện | Quản lý học tập | Hình ảnh | Tài nguyên | Văn bản|Tin từ các báo |Liên hệ
Giới Thiệu
Tin tức - Hoạt động
Lịch công tác
Trang vàng 
Giải trí
Liên kết hữu ích
Thông tin cần biết
Tài liệu tham khảo
Tìm kiếm
    Từ khóa
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   Hot online: 0905609111

   Ban quản trị:

Danh ngôn - Tục ngữ
   -“Học, học nữa, học mãi.” – V.I. Lenin (1870–1924)
   -“Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người.” (Ngạn ngữ Nga)
   -“Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người.” – A. Einstein (1879–1954)
LIÊN KẾT NHANH


Chuyên đề giáo dục
 
GIÁO DỤC KHU VỰC VĨNH LINH

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ, đất nước tạm thời chia làm hai miền. Phần lớn vùng đất thân yêu của Quảng Trị phải tạm thời nằm dưới quyền kiểm sóat của chính quyền Mỹ ngụy. Riêng Vĩnh Linh thuộc miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa phải đảm nhận hoàn thành nhiệm vụ giữ vững tuyến đầu của Tổ quốc, vừa phải gánh vác trách nhiệm là hậu phương toàn diện và trực tiếp của tiền phương lớn. Chính vì vậy trong lịch sử giáo dục  khu vực Vĩnh Linh có cả lịch sử giáo dục tỉnh Quảng Trị. Trong điều kiện đặc thù đó Giáo dục Vĩnh Linh đã tiếp  nhận  một số thầy giáo và học sinh các trường Quảng Trị tấp kết ra Bắc. Nhiệm vụ chính trị là xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, tiếp tục xáa nạn mù chữ, xây dựng ngành học Bổ túc văn hóa khoa học cho cán bộ và thanh niên miền Nam tập kết ra Bắc, cho nhân dân Vĩnh Linh để xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu thuẩn cho Cách mạng miền Nam Việt Nam. Để xây dựng ngành học Phổ thông phát triển mạnh mẽ về số lượng và có chất lượng cao, công việc đầu tiên là củng cố và mở rộng trường cấp I Hồ Xá, thu hút 100% con em miền Nam vào trường, tổ chức kí túc xã cho học sinh, lo cả nuôi và dạy. Liên hệ với các tỉnh phía Bắc như trường cấp III Phan Đình Phùng, Huỳnh Thúc Kháng để gửi học sinh khi chưa có cấp lớp tại Vĩnh Linh
 Công tác thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hóa cho cán bộ và nhân dân được đặt ra cấp thiết hơn trong hòa bình xây dựng. Mọi lực lượng có văn hóa trong cơ quan xí nghiệp, nông thôn, cùng với cán bộ ngành Giáo dục đều được huy động. Các hình thức học: tại chức, nửa tập trung định kỳ và tập trung đều được sử dụng. Năm 1958, miền xuôi Vĩnh Linh, rồi năm 1960 miền núi Vĩnh Linh được Chính phủ công nhận thanh toán xong nạn mù chữ cho tất cả những người trong độ tuổi đi học . Trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, các lớp bổ túc văn hóa và hình thức hoạt động bổ ích và cần thiết trên trận địa dân quân tự vệ hoặc trong lán, hầm của cơ quan. Do liên tục và kiên trì coi trọng công tác bổ túc văn hóa, đến năm 1960 đại bộ phận cán bộ và thanh niên đã có trình độ văn hóa cấp III.
 Ngành học Phổ thông phát triển nhanh hơn và vững chắc hơn. Trường cấp I hoàn chỉnh được tổ chức đều khắp các xã miền xuôi từ năm 1956 và ở miền núi năm 1960 kể cả xã Hướng Lập xa xôi. Từ năm học 1959 trường cấp II chuyển dần về xã đến năm 1963 tất cả các xã đồng bằng đều có trường cấp II và toàn miền núi có 2 trường tại Bãi Hà và Hướng Lập. Trường cấp III Vĩnh Linh được xây dựng từ năm 1959, đến nay đã phát triển thành hai trường với qui mô vừa và lớn và 1 trường phổ thông cấp III vừa học vừa lao động sản xuất đang xây dựng. Từ năm 1962 hàng năm trung bình có từ 150 đến 250 học sinh lớp 10 ra trường và từ năm 1970 số học sinh cấp III ra trường hàng năm đã lên tới từ 450 đến 500 học sinh.
 Ngành học Mẫu giáo ra đời muộn hơn nhưng cũng phát triển vững chắc. Bắt đầu thí điểm từ năm 1961, các lớp mẫu giáo phát triển khắp các xã và năm 1964 - 1965 khu Vĩnh Linh  đã huy động ngót 50% số cháu từ 3 đến 5 tuổi ra lớp. Xã Vĩnh Trung vẫn giữ vững lá cờ đầu của mẫu giáo khu vực với tỷ lệ huy động 100% và chất lượng tốt. Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vô cùng ác liệt không ngăn cản được giáo dục Vĩnh Linh phát triển. Hệ thống trường học Vĩnh Linh đạt mức hoàn chỉnh, có 19 trường cấp II, 24 trường cấp I, 1 trường cấp III, 1 trường sư phạm cấp I, 1 trường thanh niên dân tộc và 18 trường bổ túc văn hóa ở các xã đồng bằng. Khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời Vĩnh Linh đã đào tạo bổ sung cho công cuộc giải phóng đất nước, giải phòng quê hương, những chiến sĩ có trình độ văn hóa khoa học, những cán bộ am hiểu về đường lối của Đảng trở lại miền Nam thực hiện công cuộc cách mạng chống Mĩ cứu nước, Ngành giáo dục Vĩnh Lịnh lựa chọn một đội ngũ cán bộ, giáo viên vào chiến trường Quảng Trị để bồi dưỡng tại chỗ cho cán bộ, chiến sĩ ở khu căn cứ, cho các đơn vị thanh niên xung phong, tổ chức lớp học ở vùng tự do ngoài vòng kiểm sóat của địch, trong cuộc hành quân này, toàn ngành đã có 71 cán bộ, giáo viên đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả được Nhà nước phong tặng liệt sĩ.
  Năm 1973, tổng số học sinh vở lòng và phổ thông của Vĩnh Linh đã gấp hơn 50 lần số học sinh trước Cách mạng tháng Tám. Đặc biệt Vĩnh Linh có gần 10 ngàn học sinh cấp II và cấp III - một lực lượng trẻ có văn hóa đông đúc, điều mà trước Cách mạng chưa bao giờ có. Về chất lượng, giáo dục Vĩnh Linh là khu vực đặc biệt được Trung ương dành tối đa mọi nguồn lực với quyết tâm mãnh liệt là "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược trên mặt trân giáo dục - đào tạo" Ngành giáo dục Vĩnh Linh đã được Bộ Giáo dục quan tâm chỉ đạo cụ thể đầu tư đầy đủ về thư viện, thiết bị dạy học để thực hiện nguyên lý "Học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn". Bộ cũng đã bổ sung nhiều giáo viên giỏi, thủ khoa ở các trường Đại học sư phạm cho Vĩnh Linh như thầy giáo Lê Duy Minh (liệt sĩ), thầy giáo Đặng Khắc Nhân, cô giáo Nguyễn Thị Mai (người Hà Nội) thầy Nguyễn Văn Huân.v.v... Vì vậy chất lượng đào tạo có thể nói là đạt đỉnh cao. Các đội học sinh giỏi Văn, Toán đi thi miền Bắc đạt giải Nhất, Nhì liên tục nhiều năm. Có nhiều học sinh trở thành nhà văn như Xuân Đức, Ngô Thảo; có học sinh trở thành tiến sĩ Toán học như Trần Đức Vân, Nguyễn Xuân Tuyến. Từ năm 1962 đến 1974 học sinh Vĩnh Linh vào các trường Đại học đạt từ 70 đến 80%.
 Khẩu hiệu: "Giống trống Bắc Lý, nổi sóng Hiền Lương, nỗ lực phi thường, giành cờ Hai tốt" được toàn ngành quán triệt sâu rộng, đã tăng thêm sức mạnh cho thầy trò Vĩnh Linh. Trong tiếng bom gầm đạn rít, tiếng giảng bài của thầy, tiếng trả bài của trò, tiếng hát ca vẫn rộn vang khắp các lũy tre xanh của nông thôn, đồng bằng, dưới rừng cây của miền núi. những trò chơi, những điệu múa dưới hào giao thông, bên miệng hầm địa đạo của các lớp mẫu giáo vẫn được tổ chức có nền nếp... học tập của nhà trường càng gắn liền với đời sống xã hội. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt như vậy, những thửa ruộng thí nghiệm năng suất cao của cấp II Vĩnh Hòa, những nương khoai, lạc đất đỏ của cấp III Vĩnh Linh, những đám ruộng bèo dâu của cấp I, cấp II Vĩnh Lâm. Trường cấp I Vĩnh Lâm đã có sáng kiến xây dựng Hợp  tác xã Măng non Duy Viên, một điển hình gắn giáo dục với kinh tế - xã hội ở địa phương, được Trung ương Đoàn đánh giá cao và nhân rộng trong các trường học trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Những đội văn nghệ "Chim sơn ca", "Sóng biển" của cấp II Vĩnh Tân,Vĩnh Quang; những ngày hội Văn, Toán của nhiều trường cấp II, cấp III, cùng những hoạt động phục vụ chiến đấu như  tham gia ngụy trang các trận địa pháo, chuyển và lau chùi súng đạn, cáng thương binh... càng làm cho hoạt động của nhà trường phổ thông sôi nổi, hào hứng. Từ tháng 2 năm 1965 địch đánh phá Vĩnh Linh ác liệt, các trường học dọc tuyến quốc lộ, đường 15, khu vĩ tuyến 17 bị đánh phá dử dội. Giáo viên và học sinh hy sinh, điển hình là 8 học sinh cấp III Vĩnh Linh và thầy giáo Lê Duy Minh, thầy giáo Lê Duy Lâm (Trường cấp II Vĩnh Tân), thầy Lê Quang Phúc (Trường PTCS Nông trường Quyết Thắng) hy sinh. Tổn thất nặng nề của ngành Giáo dục đã làm cho nhiều người lo lắng. Khu ủy Vĩnh Linh đã kịp thời chỉ đạo trường học sơ tán vào các địa điểm an toàn, đào giao thông hào để học sinh đến trường, lớp học đặt dưới các hầm kiên cố, ổn định và xiết chặt đội ngũ quyết tâm cùng toàn dân đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, chi viện cho Quảng Trị, chi viện cho miền Nam ruột thịt. Vì vậy  phong trào bổ túc văn  hóa xã Vĩnh Nam, phong trào mẫu giáo xã Vĩnh Trung, trường cấp I Vĩnh Lâm, Vĩnh Trường, Cấp II Vĩnh Tân, Vĩnh Hòa, cấp III Vĩnh Linh vẫn được giữ vững. Các tổ lao động xã hội chủ nghĩa cũng tăng thêm nhiều, là những bông hoa rất đẹp, rất tươi của ngành ta: tổ bổ túc văn hóa Nam  Cường, Duy Viên, Hùynh Hạ; tổ phổ thông cấp I Vĩnh Lâm, tổ Lý - Hóa - Sinh, tổ Văn trường cấp III Vĩnh Linh...Trong hội nghị thi đua toàn ngành miền Bắc năm 1966, khu vực Vĩnh Linh  được tặng thưởng 7 Huân chương lao động cho đơn vị và cá nhân cùng nhiều Bằng khen và Giấy khen của Chính phủ. Phong trào bổ túc văn hóa của khu vực Vĩnh Linh vinh dự được nhận phần thưởng của Bác Tôn, Trưởng ban lãnh dạo bổ túc văn hóa Trung ương; ngành học Phổ thông được thưởng Huân chương lao động hạng hai. Trường phổ thông cấp III, phong trào mẫu giáo xã Vĩnh Trung và bổ túc văn hóa xã Vĩnh Nam được tuyên dương là những đơn vị xuất sắc của vùng chiến đấu ác liệt.
 Năm học 1966-1967 giặc tăng cường đánh phá Vĩnh Linh bằng máy bay B52 cố tình hủy diệt khu vực đầu cầu giới tuyến. Để đảm bảo đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, đảm bảo tính mạng nhân dân, Thường vụ Đảng ủy khu vực chủ trương ( được Trung ương Đảng và Chính phủ đồng ý) chuyển một bộ phận nhân dân ra các tỉnh bạn để bảo toàn lực lượng. Một cuộc chia tay kẻ ở người đi, bao nỗi lo toan giằng xé nhưng vì sự nghiệp phát triển của giáo dục, vì thế hệ trẻ đã tạo được cách đi an toàn, hạn chế tối đa tổn thất. Một chuyến xe có lực lượng công an, dân quân tự vệ, y tế, thầy cô giáo áp tải. Đêm đi, ngày nghỉ. Cuộc hành quân hiếm có trong lịch sử này có tổn thất lớn là 59 học sinh (trong đó có 39 học sinh cấp I xã Vĩnh Hiền) và 6 thầy cô giáo, 5 cán bộ khu vực và hướng dẫn viên phải hy sinh trên đường đi. Bí thư huyện ủy huyện Kỳ Anh và 2 cán bộ của tỉnh Hà Tĩnh, 3 cán bộ của tỉnh Quảng Bình hy sinh trong khi đưa đón các cháu K8 Vĩnh Linh. Mất mát tổn thất lớn lao này như tiếp thêm sức mạnh cho cuộc di chuyển đi đến nơi về đến chốn. Đầu năm 1967, Ngành Giáo dục đã chuyển 3000 cháu học sinh cấp I, cấp II ra Thanh Hóa và 2 trường sư phạm, thanh niên dân tộc ra Quảng Ninh, Hà Bắc. Đến tháng 7/1967  chuyển tiếp hơn 14 ngàn học sinh phổ thông ra các tỉnh tương đối an toàn theo kế hoạch 8 và kế hoạch 10. Một cuộc hành quân chưa từng có từ trước đến nay, tưởng chừng khó mà thực hiện được. Thế nhưng dưới bom đạn của địch, được sự chăm lo của Đảng và nhân dân trong khu vực, được sự đùm bọc che chỡ của nhân dân các tỉnh bạn suốt trên chặng đường đi và ở những nơi đến, thầy trò Vĩnh Linh đã khẩn trương chuẩn bị và ra đi không quản bom đạn, chẳng kể ngày đêm, mưa gió lụt lội, khi đi xe, lúc dắt dìu nhau đi bộ qua đồng lầy, núi non, khi đi liên tục, lúc phải trú lại năm bảy ngày đến một tháng vì địch đánh phá ác liệt. Cuộc hành quân kéo dài gần 2 năm (kể từ chuyến đi đầu tiên đưa 2446 cháu ra Thanh Hóa), trên một độ đường từ 400 đến 700 km và đã kết thúc thắng lợi. Trong cuộc di chuyển này, thầy giáo, cô giáo Vĩnh Linh là những người được Đảng bộ và nhân dân tin cậy, gửi gắm những đứa con thân yêu. Nhiều cán bộ, giáo viên ra đi để lại con thơ vợ yếu, nhiều giáo viên ở ngoại tỉnh đã mấy năm liền chưa có dịp về thăm nhà nay cũng tạm gác tình riêng. Mỗi người phải lo lắng, chăm sóc và điều khiển 30 đến 40 em học sinh suốt dọc đường đi. Các giáo viên phải lo tất cả những nổi lo của người chỉ huy đơn vị, của người cha, người mẹ. Các giáo viên chúng ta đã quên ăn, quên ngủ, thật sự thương yêu học sinh, hết lòng hết sức cho sự an toàn và sức khỏe của học sinh. Thầy giáo chúng ta đã làm hết sức mình trong chuyến đi xa ngày, không nề khó khăn, không tiếc sức lực và đã có một số cán bộ, giáo viên đã góp phần xương máu của mình cho công cuộc di chuyển này, sau này được Nhà Nước truy tặng là liệt sĩ.
 Giáo dục khu vực Vĩnh Linh chuyển qua một thời kỳ mới, thời kỳ tạm thời phân tán ra ở rất nhiều tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Thái Bình, Quảng Ninh, Hà Bắc.
 Vào khoảng cuối tháng 8 năm 1967, tất cả học sinh chúng ta đã đến các địa điểm qui định. Giặc Mĩ tiếp tục đánh lan ra ngay các tỉnh có đón nhận con em Vĩnh Linh. Theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục, học sinh Vĩnh Linh không học tập trung mà xen kẻ vào các trường địa phương. Cùng với sự sắp xếp việc ăn ở, việc bố trí học hành được tiến hành khẩn trương cho nên tuy có chậm thời gian, năm học 1967, 1968 vẫn hòan thành tiến độ chương trình năm học . Các em học sinh Vĩnh Linh đã phát huy truyền thống của quê hương, với ý thức trách nhiệm cao đối với cha mẹ, anh chị đã và đang đổ máu để bảo vệ xóm làng thân yêu, để xứng đáng với sự chăm sóc, đùm bọc của  Đảng và nhân dân nơi quê hương mới. Lạ thầy, mới bạn, chưa quen phong tục tập quán địa phương, các em đã cố gắng học hành và rèn luyện ngay từ những buổi học đầu tiên đã gây được nhiều tình cảm của bạn bè và thầy giáo mới. Kết quả học tập của các em tương đối khá. Số học sinh yếu chiếm tỷ lệ rất ít, số học sinh khá ngày càng đông. Trong nhiều năm tỷ lệ học sinh Vĩnh Linh so với học sinh trong trường thông thường chiếm khỏang 10% nhưng số học sinh đạt danh hiệu tiến tiến lại chiếm 40 - 50%. Học sinh Vĩnh Linh đã mang vềì nhiều giải học sinh giỏi cho các tỉnh bạn . Các em học sinh Vĩnh Linh đã tham gia tích cực vào các hoạt động thể dục thể thao và văn nghệ. Nhiều em được tín nhiệm và được cử làm cán bộ chi đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh hoặc cán bộ Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
 Hơn 400 anh chị em giáo viên Vĩnh Linh ra các tỉnh không chỉ làm nhiệm vụ một thầy giáo, thành viên Hội đồng nhà trường mà còn phải làm nhiệm vụ thay thế cha mẹ, anh chị các em, chăm lo mọi mặt cho các em, thay thế cán bộ Đảng và chính quyền để trực tiếp bàn bạc, giải quyết mối quan hệ đối với địa phương. Chưa bao giờ nhiệm vụ của anh chị em giáo viên nặng nề và khó khăn như thế. Nhưng giáo viên Vĩnh Linh đã hết sức cố gắng để xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng bộ và nhân dân . Giáo viên đã làm việc không biết mệt mỏi. Một em học sinh có tin buồn quê hương chuyển đến là có mặt người thầy giáo động viên an ủi. Một em học sinh ốm đau là có bàn tay người thầy giáo nâng niu săn sóc. Thiếu nhà ở của một em học sinh, có vấn đề gì bất bình trong gia đình nuôi; thiếu sách vở, giấy bút, áo quần... nhất nhất anh chị em Vĩnh Linh đều có mặt để giải quyết.  Những ngày tết đến xuân sang, thầy trò K8 lại quây quần bên nhau, động viên, cổ vũ nhau làm sao cho xứng đáng với quê hương đang chiến đấu kiên cường, đang chịu đựng bao nhiêu khó khăn gian khổ.
Về mặt tổ chức quản lý học sinh K8:
 Theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Bộ Nội vụ đã thành lập Ban quản lý K8. Bộ Giáo dục do thầy nguyễn Văn Tu làm trưởng ban, Bộ Nội vụ có đồng chí Trần Đức Hạnh (uỷ viên Uỷ ban Khu vực Vĩnh Linh) làm trưởng ban. Các Ty Giáo dục của tỉnh bạn có một ban K8 gồm một đồng chí lãnh đạo Ty của tỉnh bạn và có 1 đến 2 cán bộ là giáo viên của Vĩnh Linh đặc trách theo dõi về tình hình học sinh K8. ở Ty Giáo dục Thanh Hoá do thầy Hồ Quang Khải phụ trách, Ty Giáo dục Ninh Bình do thầy Nguyễn Văn Màng, Ty Giáo dục Nam Hà có thầy Thái Tăng Ly và Lê Gia Hà, Ty Giáo dục Thái Bình có thầy Phan Văn Đản và Nguyễn Huỳnh. Các trường học có học sinh K8 được bố trí 1 Hiệu phó là người Vĩnh Linh có nhiệm vụ theo dõi về chế độ ăn ở, tình hình học tập, tâm tư nguyện vọng của các em, phản ánh với cấp trên có kế hoạch điều chỉnh phù hợp. Hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Bộ đến các trường học đã tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý, đảm bảo được thông tin, liên hệ mật thiết với chính quyền và nhân dân Vĩnh Linh. Cha mẹ các em an tâm, các em phấn khởi trong học tâp và rèn luyện. Những buổi học hè, những giờ tập hát, tập múa, những ngày tham quan cắm trại được tổ chức năm này qua năm khác có nền nếp nhưng cũng vô cùng vất vả; thậm chí có những hè giáo viên được đi bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ thì giáo viên Vĩnh Linh cũng lại phải ở nhà và chỉ có cách tranh thủ mượn tài liệu của đồng nghiệp mà tự nghiên cứu, học tập thêm. Nhiều đồng chí giáo viên ngoại tỉnh mới phục vụ  Vĩnh Linh một vài năm cũng đã trở thành những người cán bộ gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Vĩnh Linh, gắn bó với sự tiến bộ của các em học sinh Vĩnh Linh.  Điều anh chị em mong muốn cũng rất đơn giản và đáng tự hào là được các em yêu mến, được nhân dân Vĩnh Linh tin cậy và thông cảm. 
 Công lao của các tỉnh bạn đối với thầy giáo và học sinh Vĩnh Linh là vô cùng to lớn. 6 năm các em học sinh Vĩnh Linh lớn lên trong sự đùm bọc, che chỡ, dạy bảo của quý bậc phụ huynh, của các thầy cô giáo tỉnh bạn là những nghĩa cử cao quý mà người Vĩnh Linh mãi mãi ghi nhớ, nhắc nhở con em mình vươn lên trong cuộc sống, để một phần đền đáp sự quan tâm chu đáo của các cấp bộ Đảng, chính quyền và nhân dân các tỉnh.
 Trường sư phạm Vĩnh Linh được Bộ quy định ra tận huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh. Ra đi vội vàng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nên chỉ vỏn vẹn 15 giáo viên và cán bộ, 60 giáo sinh, với một ít soong nồi và vật dụng cá nhân. Nhân dân thôn Tràng Bạch xã Tràng An đã san sẻ nhà cửa cho thầy trò sư phạm Vĩnh Linh ở, giúp đỡ tre nứa dựng lán làm phòng học, nhà ăn. Với tinh thần tự lực cánh sinh và quyết tâm lớn, Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Thanh cùng với tập thể sư phạm nhà trường  bắt tay và khẩn trương tổ chức ổn định việc ăn ở, học hành. Cán bộ phục vụ thiếu, giáo sinh phân công nhau nấu ăn, giáo viên phân công nhau làm quản lý, đi tiếp phẩm. Vừa dạy vừa học, vừa phải lo công việc đời sống, thầy trò đều hồ hởi phấn khởi. Việc gì cần là có người đảm nhận ngay.
 Sau một thời gian ngắn trường đã ổn định, một số nhà và phòng học được mọc lên đảm bảo cho việc tiến hành học tập và giảng dạy .  Chỉ sau 1 năm học, trường đã có đủ phòng học, phòng cho các hoạt động ngoại khóa với đầy đủ bàn ghế, có đủ nhà ở cho 113 giáo sinh, hơn 20 cán bộ, giáo viên. Cơ ngơi tuy vẫn là tranh tre nứa lá, nhưng đây là một sự nỗ lực cao, sự đóng góp nhiều công sức của thầy và trò cùng với sự giúp đỡ của các cơ quan địa phương.
 Với hoàn cảnh tương đối an toàn hơn, trường có nhiệm vụ tiếp tục đào tạo nhiều giáo viên tốt cho Ngành. Trường đã phải khắc phục rất nhiều khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Những năm đầu, nhiều bộ môn còn thiếu thầy như Tâm lý giáo dục, nhạc, họa và một số môn văn hóa, trường vẫn đảm bảo dạy đủ các môn.  Tuy qui mô trường nhỏ, hoàn cảnh có nhiều khó khăn, trên cơ sở đoàn kết thương yêu nhau, tập thể thầy giáo và giáo sinh đã nghiêm túc từng bước thực hiện các Quy chế về trường sư phạm của Bộ. Các công tác thực hành, thực tập sư phạm của các khóa đều đặn được thực hiện nghiêm túc. Chính do sự phấn đấu như thế, trường sư phạm cấp I Vĩnh Linh đã sớm được hai Bộ Giáo dục và Đại học chuyên nghiệp công nhận là một trường Trung học của địa phương.  Hàng năm trường đã cung cấp cho ngành nhiều giáo viên trẻ, hăng hái, có nhiệt tình trở về phục vụ ở nhiều địa bàn của Vĩnh Linh, Thanh Hóa, Tân Kỳ  và một số được điều động đi B phục vụ cho con em miền núi Quảng Trị. Tuy chất lượng đào tạo chưa thật đáp ứng yêu cầu cao nhưng phải thấy rằng đây là nguồn cung cấp đội ngũ đông đảo giáo viên trẻ có triển vọng cho giáo dục Vĩnh Linh phát triển sau này.
 Đến năm 1972 - 1973 trường được chuyển về Tân Kỳ Nghệ An. Trường lại phải tổ chức di chuyển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Về Nghệ An, lại phải tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất, ổn định đội ngũ, vừa phải làm thêm nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên. Trường đã có nhiều cố gắng, nhanh chóng ổn định tổ chức nội trú đảm bảo phòng tránh tốt và tiến hành giảng dạy cả hai hệ bồi dưỡng và đào tạo, hoàn thành đúng thời hạn, kế hoạch năm học do Bộ qui định. Về cuối năm học 1972 - 1973 sau khi địch ngừng ném bom, trường lại tiếp tục di chuyển về hẳn trên quê hương Vĩnh Linh và vừa phải thi niên khóa, vừa phải xây dựng trường lại từ đầu, trường sư phạm lại một lần nữa khắc phục mọi khó khăn tổ chức di chuyển tốt, tạo điều kiện để bước vào năm học 1973 - 1974 nhanh chóng và kịp thời.
 Trường thanh niên dân tộc cũng ra đi đầu năm 1967, ra tận huyện Lục Nam tỉnh Hà Bắc, về một địa phương cũng lắm rừng, nhiều suối, cũng tịch mịch những lúc sớm chiều. Lúc đầu thầy trò Vĩnh Linh ở chung với trường thanh niên dân tộc địa phương, trường thanh niên dân tộc Bắc Sơn. Trường bạn cũng mới thành lập không bao lâu, số học sinh cũng không đông lắm, cơ sở vật chất không có bao nhiêu thế nhưng rất thông cảm với Vĩnh Linh nên đã nhường hẳn một nửa cơ sở  từ phòng học, nhà ở đến bếp ăn. Các em học sinh dân tộc lần đầu tiên xa nhà, xa quê hương nên về mặt tình cảm có nhiều khó khăn, các giáo viên gần gũi các em, giúp đỡ động viên các em. Tranh thủ thời gian, trường vừa tổ chức học tập vừa bắt tay lao động xây dựng trường sở. Chỉ sau một năm học, trường thanh niên dân tộc Vĩnh Linh đã có phòng học riêng, có đủ nhà ở rộng rãi cho cán bộ và học sinh, có nương rau xanh mượt, có rẫy sắn tốt tươi, có ruộng lúa, có cơ sở chăn nuôi lợn và gà vịt để tự túc thêm. Về mặt học tập, thầy trò đã có nhiều cố gắng, phát huy sự nỗ lực của bản thân, tranh thủ đi học tập kinh nghiệm các trường bạn. Ông Hoàng Niếp, Hiệu trưởng nhà trường đã cùng với tập thể sư phạm xây dựng được mối quan hệ rất tốt với trường địa phương, có thể nói hai trường như một, thân mật và chan hòa. Tinh thần công tác của cán bộ, giáo viên Vĩnh Linh đã để lại những ấn tượng sâu sắc, những tình cảm tốt đẹp trong cán bộ và học sinh địa phương. Trong những năm ở Hà Bắc trường thanh niên dân tộc đã cung cấp cho các trường trung cấp chuyên nghiệp  một số học sinh để đào tạo thành những cán bộ phục vụ các mặt công tác cho dân tộc ngày nay. Đông đảo những học sinh tốt nghiệp lớp 7 đã trở về quê hương tham gia công tác, sản xuất và chiến đấu có hiệu quả. Mãi đến năm 1971 trường được chuyển hẳn về khu vực  Vĩnh Linh để tiếp tục việc giáo dục thế hệ trẻ dân tộc.
 Trường cấp III Vĩnh Linh di chuyển chậm hơn, gần cuối kế hoạch 8 đầu kế hoạch 10. Trường phải tổ chức lấy đội ngũ của mình, phải tổ chức lấy tiền trạm của mình. Khi di chuyển trường phải để lại tất cả sách vở, đồ dùng thí nghiệm  Đến Tân Kỳ, Nghệ An trường phải gấp rút tổ chức lấy việc học hành trong lúc nhân dân chưa đến, nhà cửa, lớp học cũng không có. Thầy trò cùng nhau bàn bạc và nhất trí là dù khó khăn đến đâu cũng nhất quyết không để chậm một năm học. Cả trường tập trung làm phòng học cho khối 10 kịp vào học cuối tháng 11. các lớp khác sẽ học sau. Có phòng học, còn phải lo nhà ở, lo tổ chức ăn, ở. Thế là từ một trường ngoại trú bây giờ trở thành một trường nội trú. Các thầy giáo bây giờ phải lo cả việc ăn ở của học sinh . Có thể nói sự nỗ lực ban đầu của thầy giáo và học trò đã làm cho mọi khó khăn tưởng chừng khó khắc phục đều đã vượt qua. Từ chỗ lúc  đầu chỉ hưởng theo chế độ K10, các em học sinh về sau được hưởng theo chế độ K8, có thuận lợi hơn nhưng số lượng hàng năm tăng lên rất nhanh. Năm học đầu chỉ hơn 800, năm thứ hai lên 1100 và năm sau đến 1400 học sinh. Sức thầy trò đã phá núi vỡ đồi, biến một nơi hoang vu thành khu trường cao ráo, nhà cửa san sát, chắc chắn. Lãnh đạo nhà trường gồm các ông Nguyễn Hữu Bành, Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng ông Nguyễn Bá Tân, ông Lê Văn Khinh, ông Trần Đình Kham đã cùng với tập thể sư phạm nhà trường với sự giúp đỡ của nhân dân K10, có sự hỗ trợ của Nhà nước, trường cấp III ngày càng được xây dựng tốt hơn, có đủ phương tiện để học tập, vui chơi giải trí. Thầy giáo và cán bộ trường cấp III Vĩnh Linh đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh để tạo điều kiện cho nhà trường từng bước tiến lên. Vào học chậm hơn 3 tháng nhưng năm học 1967 - 1968 vẫn kết thúc kiüp thời theo quy định của Bộ. Học sinh lớp 10 kịp tham gia kỳ thi tốt nghiệp phổ thông cùng các trường trên miền Bắc. Tuy xa sự lãnh đạo của cấp trên, trường vẫn đi vào giảng dạy nghiêm túc, cố gắng xây dựng những nền nếp dạy và học, kiên trì thực hiện quan điểm giáo dục toàn diện của Đảng. Học sinh tuyển vào trình độ rất chênh lệch, nhưng thầy giáo đã cố gắng dắt dìu các em để rồi sau 3 năm ở trường trình độ các mặt được nâng lên rõ rệt. Trường cấp III Vĩnh Linh  là một trường nội trú lớn nhất ở miền Bắc. Thế nhưng hoạt động của nhà trường có nền nếp, các hoạt động văn nghệ, thể thao cũng rất sôi nổi, đều đặn. Tổ chức lao động sản xuất của nhà trường cũng đạt được những kết quả tốt. Những bãi ngô, đồng lúa có năng suất cao và có năm đã thu hoạch được hàng chục tấn, vừa tăng thêm sản phẩm cho xã hội, vừa tạo thêm điều kiện để cải thiện đời sống của học sinh. Hoạt động của Đoàn thanh niên lao động  Hồ Chí Minh và Công đoàn giáo dục có nội dung thích hợp, tác dụng tốt đến việc học tập, giảng dạy và rèn luyện tu dưỡng của thầy và trò. Các đoàn kiểm tra của Bộ Giáo dục, của Ty Giáûo dục Nghệ An đã xác nhận trường Vĩnh Linh là một đơn vị giáo dục tiến tiến xuất sắc, đội ngũ giáo viên vừa có nhiệt tình cao, vừa có năng lực, một tập thể thầy giáo hết lòng hết sức vì sự tiến bộ của học sinh, tập thể học sinh chăm chỉ học tập, lao động cần cù và say mê hoạt động vui khỏe. Ban thi đua của Bộ Giáo dục đã chọn trường cấp III Vĩnh Linh là một trong các đơn vị được trình lên Ban thi đua Trung ương xét chọn đơn vị anh hùng. Trung ương Đoàn thanh niên lao động  Hồ Chí Minh đã chọn Đoàn thanh niên lao động trường báo cáo điển hình trong Đại hội "Ba sẵn sàng" thắng Mĩ của thanh niên miền Bắc. Năm 1973,  trường được trở về quê hương Vĩnh Linh, những hình ảnh tốt đẹp của trường vẫn còn đậm nét trong phong trào giáo dục của tỉnh bạn những năm đánh Mĩ cứu nước.
 Giáo dục K10, một phong trào giáo dục phát triển khá tốt đẹp tại khu hậu cứ của Vĩnh Linh.Mãi đến tháng 2 năm 1968 nhân dân ta mới đến đông đủ tại Tân Kỳ , phân tán trên một địa bàn rừng núi khá rộng. Ở đây toàn là những ông già bà lão, những người đau yếu, những bà mẹ đông con mọn, thế nhưng sức lực dồn vào cho sự nghiệp giáo dục rất lớn. Ở đây cả 3 ngành học được phát triển một cách cân đối và mạnh mẽ.
 Ngay từ buổi đầu, nhân dân K10 vừa tập trung sức lo làm nhà cửa, vừa lo khai hoang để tăng gia sản xuất, vừa phải lo việc tổ chức học hành. Khi nhân dân các xã đã được tạm xếp vào các địa phương, một số ít cán bộ do Ủy ban Hành chính và Ty cử ra đã bắt tay tổ chức các lớp vở lòng cho con em; vừa tìm học sinh, vừa chọn và huấn luyện thầy giáo, cô giáo, vừa tổ chức làm trường lớp. Vào đầu năm học 1968 - 1969 tất cả các em học sinh cấp I, cấp II không có điều kiện đi theo K8 được thu xếp vào học các trường địa phương. Các lớp 1 đặc biệt được tổ chức khắp các xã thu hút hơn 1000 cháu. Và cùng trong năm học đó các lớp mẫu giáo bé cũng lần lượt được xây dựng, các lớp học bổ túc văn hóa cũng bắt đầu. Việc học tập của người lớn và của trẻ em được bàn bạc sôi nổi, kỹ càng và cụ thể. Người đi dạy được chọn lọc, được giao trách nhiệm rõ ràng và lần lượt được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn. Phong trào thi đua được phát động và  phát triển ngày càng mạnh mẽ. Xã nào cũng đều có cả 3 ngành học: Mẫu giáo, Phổ thông và Bổ túc văn hóa. Có xã thu hút gần 95% số các cháu vào các lớp mẫu giáo bé, tất cả tre em đến tuổi học vào mẫu giáo lớn và cấp I; tất cả những người trong độ tuổi đều đi học bổ túc văn hóa thường xuyên. Chúng ta vô cùng cảm động khi thấy nhiều chị bận bịu với con cái vẫn hăng hái đi dạy mẫu giáo, vẫn hát múa với các cháu; rất nhiều giáo viên bổ túc văn  hóa tuy có tuổi nhưng không bao giờ vắng mặt hay bỏ giờ dạy. Ngành giáo dục phổ thông có những bước tiến vững chắc. Những năm đầu khi đang còn chung một Hội đồng với trường địa phương, anh chị em giáo viên Vĩnh Linh là những người có nhiều đóng góp xây dựng tổ chức và nền nếp của nhà trường. Và khi đã tách thành trường riêng thì trường K10 phần lớn là những trường có tổ chức chặt chẽ, có không khí thi đua dạy và học sôi nổi, có nhiều đóng góp vào các hoạt động chuyên môn của giáo dục địa phương. Thầy trò K10 đã cùng các cụ, các bà, các chị đã làm đủ bàn ghế cho học sinh, làm nhà ở, nhà làm việc cho giáo viên khá tươm tâït. Năm 1968 - 1969 mới có 1000 học sinh lớp 1 thì đến năm học 1972 - 1973  đã có gần 7000 học sinh lớp 1; gần 1500 học sinh cấp II, có trên 2000 cháu học mẫu giáo lớn, trên 3000 cháu mẫu giáo bé. Giáo dục K10 đã góp phần quan trọng làm cho giáo dục huyện Tân Kỳ trở thành một huyện miền núi có phong trào giáo dục khá của tỉnh Nghệ An. Trong phong trào thi đua "Hai tốt"  có trường cấp I Vĩnh Thủy là đơn vị được công nhận tổ lao động xã hội chủ nghĩa; trường cấp I Vĩnh Sơn, Vĩnh Nam, Vĩnh tú, Vĩnh Lâm... là những đơn vị được tuyên dương. Phong trào mẫu giáo của Vĩnh Hòa được chỉ định rút kinh nghiệm ở tỉnh. Phong trào Bổ túc văn hóa của Vĩnh Son, Vĩnh Nam, Vĩnh Lâm đều được công nhân là những đơn vị tiên tiến.

 Cùng với việc tổ chức đời sống và sản xuất có nền nếp, có hiệu quả, việc tổ chức học hành đều khắp các hợp tác xã của K10 đã làm cho Tân Kỳ  có nhiều thay đổi, đồng thời cùng làm cho Đảng bộ và nhân dân đang chiến đấu trên quê hương hết sức an tâm và phấn khởi. Rõ ràng sự nghiệp giáo dục K10 trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn do sơ tán, do chiến tranh ác liệt nhưng đã góp phần ổn định đời sống tại nơi sơ tán và động viên quê hương chiến đấu và chiến thắng.
        Nhờ sự giúp đỡ của các tỉnh bạn, nhờ sự nỗ lực của đội ngũ , sự nghiệp giáo dục Vĩnh Linh vẫn tiếp tục phát triển. Số lượng qua các năm học: (*)
 Chính sự phát triển liên tục trong chiến tranh như thế ở nhiều địa bàn, nên khí hòa bình lập lại, giáo dục phổ thông của Vĩnh Linh có điều kiện tiếp tục phát triển, có đội ngũ giáo viên đông đảo. Và cũng nhờ sự phát triển liên tục đó, ngành Giáo dục đã cung cấp nhiều học sinh cho các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp trong và ngoài nước, nhiều thanh niên có trình độ văn hóa bổ sung cho lực lượng vũ trang, chiến đấu và sản xuất tại địa phương. Giáo dục Vĩnh Linh đã đem lại nhiều kinh nghiệm tốt trong phát triển phong trào và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. 
 Năm 1967, đại bộ phận cán bộ của Ngành chuyển theo học sinh sơ tán ra Bắc. Hơn 54 cán bộ , giáo viên được phân công ở lại bám trụ trên địa bàn Vĩnh Linh để chăm lo việc giáo dục cho dân quận tự vệ bám trụ chiến đấu ở địa phương. Cơ quan Ty cũng chỉ còn lại 7 người. Lúc đó cũng có người nghĩ rằng: ở lại cũng chỉ để có mặt của ngành mà thôi. Nhưng qua những đợt nghiên cứu tình hình nhiệm vụ, phân tích các loại đối tượng còn lại, đã xác định rằng "Bất luận tình hình nào cũng phải phát triển giáo dục". Chiến tranh vô cùng ác liệt sẽ gây nhiều khó khăn nhưng cũng ngay trong chiến tranh việc học tập vẫn là một yêu cầu không thể thiếu được và vẫn có khả năng tổ chức được. Không thể để cho cán bộ, đảng viên và thanh niên đang bận chiến đấu và sản xuất mà không học tập văn hóa vì như thế nhất định sẽ có tác động không tốt ngay đến chiến đấu và sản xuất trước mắt và cả về sau này nữa. Toàn ngành đã bàn bạc và quyết tâm ra quân với những bước đi được chuẩn bị kỹ lưỡng. Đội ngũ chuyên trách được tập trung lại để xây dựng dứt điểm ở những nơi có điều kiện hơn. Những lớp học tổ chức ra phải là những lớp học "thép" có sức bền vững không lay chuyển được. Từ đầu năm 1968, các lớp học ở Vĩnh Nam, Vĩnh Long, Vĩnh Chấp, Vĩnh Tú... dần dần được mở lại. Xã Vĩnh Quang - nơi giặc đánh phá dữ dội, không còn một ngôi nhà, một bụi cây thế nhưng vẫn có lớp học bổ túc văn hóa cho cán bộ và dân quân trực chiến. Giờ học cũng rất linh hoạt, lúc sáng, lúc chiều; lúc trưa và có lúc giờ học được tiến hành sau một đợt chiến đấu chống máy bay, tàu biển của giặc. Cùng với ngành bổ túc văn hóa, các lớp phổ thông ở miền núi cũng được xây dựng lại vì ở đây còn nhiều học sinh phổ thông không đi theo kế hoạch 8. Tiếng giảng bài, tiếng đọc thơ, lời ca tiếng hát vẫn vọng lên giữa núi rừng miền tây nơi sư đoàn 559 anh hùng của quân đội ta đóng quân chờ ngày xông trận
 Tháng 11 năm 1968, đế quốc Mĩ phải ngừng bắn ở miền Bắc, họp bàn bốn bên ở Pari. Tình hình có thuận lợi cho phát triển giáo dục ở khu vực Vĩnh Linh. Đội ngũ giáo viên được bổ sung thêm từ các tỉnh sơ tán về. Trường bổ túc văn hóa miền núi, miền xuôi được thành lập lại, Ngành Giáo dục khu vực Vĩnh Linh cùng với Khu Đoàn thanh niên lao động tổ chức trường Đoàn Bổ túc văn hóa và kỹ thuật. Các lớp bổ túc văn hóa tại chức ở các xã được phát triển mạnh mẽ. Mấy năm chiến tranh gặp nhiều khó khăn, giờ đây tình hình tạm thời hòa hoãn,  nhưng công việc của toàn dân thời bình cũng lại thêm bề bôn hơn. Phải khắc phục nhiều khó khăn, chủ động sáng tạo tổ chức việc học hành cho xứng với những thành tích đã đạt được trong chiến đấu.
 Trường bổ túc văn hóa miền núi từ 1 lớp ở Hướng Lập được chuyển về Vĩnh Hà để vừa làm nhiệm vụ bổ túc văn hóa cho cán bộ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho miền núi , vừa phục vụ cán bộ và con em Bắc Hướng Hóa ruột thịt. Với hai bàn tay không, giáo viên và học sinh đã cùng nhau dựng trường, dựng nhà ở, tổ chức việc học hành,  xây dựng được một cơ sở trường tương đối khá, đến năm 1972, sau khi tiếp nhận trường thanh niên dân tộc  ở Hà Bắc trở về. Những hoạt động học tập, thể dục thể thao, văn nghệ của trường khá sôi nổi đã có sức thu hút học sinh, làm cho các em học sinh thanh niên dân tộc an tâm hơn, ít bỏ học  hơn.  Trường bổ túc văn hóa miền xuôi đặt tại xã Vĩnh Trung có quyết định thành lập nhưng cũng chưa có cơ sở gì. Năm bảy giáo viên, cán bộ được phân công phụ trách đã tự mình lo làm nhà cửa, lo đi chiêu sinh và cũng chỉ trong vài tháng các lớp học cho cán bộ chủ chốt xã và cơ quan được tiến hành. Khóa này xong, khóa khác lại mở. Trường di dần vào nền nếp học - dạy có chất lượng.  Những học viên tóc đã bạc, mắt đeo kính chăm chú nghe những cô giáo, thầy giáo trẻ giảng bài hoặc  đang chụm đầu bên ngọn đèn dầu giải một bài toán phân số, chuẩn bị một bài giảng văn. Trong hoàn cảnh có khó khăn, trường đã cố gắng tổ chức đời sống nội trú khá tươm tất, vui tươi, lành mạnh. Trường Đoàn cũng bắt đầu bằng việc xây dựng hàng chục ngôi nhà, di chuyển chỗ này qua chỗ khác. Tư tưởng học viên lúc đầu diễn biến gay go, nhưng nhờ thái độ công tác, thái độ phục vụ của cán bộ, giáo viên nên dần dần được ổn định và đi vào học tập có kết quả. hơn 300 đoàn viên, thanh niên có thành tích trong chiến đấu đã đến học và đã chuyển lớp hoặc mãn khóa, trở về lại nông thôn , cơ quan bổ sung lực lượng sản xuất và chiến đấu cũng như công tác.
 Phong trào bổ túc văn hóa tại chức cũng phát triển tốt. Giữa năm 1971, hưởng ứng cuộc vận động thi đua "Hai tốt" học tập và làm theo gương các điển hình tiên tiến Cẩm Bình, nhiều xã đã phát động phong trào rầm rộ. Hoàn cảnh sản xuất và chiến đấu căng thẳng, xã Vĩnh Trung huy động gần 150 học viên; Vĩnh Nam gần 200 học viên. Các xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Lâm, Vĩnh Hòa, Vĩnh Long đều có phong trào tốt. Giáo viên chuyên trách đã đề xuất nhiều hình thức học tập thích hợp. Nhiều xã đã tổ chức các lớp tập trung ngắn ngày để thanh toán các đối tượng trong diện phải xong cấp I như Vĩnh Trung, Vĩnh Nam, Vĩnh Hòa, Vĩnh Chấp. Những kinh nghiệm của Cẩm Bình, của Vĩnh Trung, Vĩnh Nam được phổ biến rộng rãi. Các tổ giáo viên được củng cố và xây dựng lại. Nội dung học được chọn lọc, bổ sung. Thực tập, kiến tập,  hội nghị chuyên đề được tổ chức thường xuyên đã có tác dụng thúc đẩy phong trào dạy và nâng cao một bước chất lượng trong các lớp bổ túc văn hóa tập trung. Các xã miền núi như Vĩnh Ô, Vĩnh Trường, Vĩnh Thượng, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà đếu có phong trào và duy trì tốt. Diện cơ quan, xí nghiệp đã khắc phục điều kiện phân tán để phát triển. Các lớp học cấp III vẫn duy trì. Năm học 1971 - 1972 đã huy động được trên 2600 người đi học (trong đó có 77 cấp III) (*)

 Từ đầu 1969 các lớp vở lòng được tổ chức dể thu hút các em còn ở lại đến tuổi học. Lớp không đông, có xã được 1 lớp, có xã vài ba lớp. Xã Vĩnh Thái bắt đầu mở hai lớp phổ thông cấp I. Từ đó hàng năm các lớp tiếp tục phát triển. Cho dến năm học 1971-1972 số các cháu  vỡ lòng trong khu vực đã lên đến 1000, số học sinh phổ thông lên đến 2800. Trường cấp I Vĩnh Thái có hơn 600 học sinh. Tình trạng chung là trường lớp phân tán nên giáo viên phải phát huy tinh thần độc lập sáng tạo, phát huy ý thức trách nhiệm để đảm bảo tốt việc học hành của con em. Các xã Vĩnh Nam, Vĩnh Trung,
Vĩnh Chấp, Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Kim bắt đầu xây dựng trường sở tốt, sắm sửa bàn ghế cho học sinh và thầy giáo. Riêng xã Vĩnh Trung mẫu giáo bé vẫn tiếp tục phát triển. Tất cả con em Vĩnh Trung đến 3 tuổi được tổ chức vào lớp. Đội ngũ giáo viên được củng cố và ngày càng có kinh nghiệm, nền nếp dạy, nền nếp quản lý các lớp được duy trì tốt.
-------------------------------------------------------------------------------------------
(*) Lưu trữ Bộ GD & ĐT
 Đầu năm 1972, ngành Giáo dục bước vào học kỳ II của năm học 1971 - 1972 với khí thế thi đua sôi nổi. Trường Đoàn đã chiêu sinh thêm khóa mới, tiến hành làm ruộng thí nghiệm giống lúa mới, lập  qui hoạch sản xuất và chăn nuôi. Trường bổ túc văn hóa miền xuôi đang đi sâu vào việc kết hợp giảng dạy văn hóa với khoa học kĩ thuật với thực tế đời sống và sản xuất ; trường thanh niên dân tộc đi theo hướng vừa học vừa làm, tổ chức các
 bộ phận chuyên trách các mặt lao động sản xuất của trường. Các trường phổ thông học tập theo Phú Thọ, Thăng Long, Tán Thuật đang xây dựng nền nếp dạy và học một cách khẩn trương. Các xã tiếp tục đẩy mạnh thi đua với Cẩm Bình. Các ngành học đang trên đà tiến lên thì chiến dịch lịch sử 1972 bắt đầu. Giáo dục Vĩnh Linh lại đứng trước một tình hình mới. Khu vực Vĩnh Linh đang tập trung sức phục vụ chiến dịch, chuẩn bị chiến đấu phục vụ vùng giải phóng. Thời kỳ này là thời kỳ cuộc sống Vĩnh Linh rất sôi nổi, nhân dân Vĩnh Linh phải một lúc đảm nhận những nhiệm vụ rất lớn: khẩn trương tiến hành việc phòng tránh, phục vụ mọi công tác liên quan đến chiến dịch và chiến trường, đón tiếp đồng bào Quảng Trị thân yêu được giải phóng. Và cũng từ đây giặc Mĩ lại một lần nữa đánh phá Vĩnh Linh một cách ác liệt với những thủ đoạn xảo trá và thâm độc hơn. Cuối tháng 3/1972 một bộ phận nhân dân và học sinh lại đi sơ tán ì. Gần 1500 học sinh cùng với một số giáo viên lên đường sơ tán ra Tân Kỳ. Các bà mẹ một nách hai con dại, những cụ già, em nhỏ âm thầm rời quê hương lửa đạn băng đèo lội suối, vượt hơn 400 km đến Tân Kỳ an toàn và trọn vẹn. Tình hình chiến sự ở Vĩnh Linh bước qua thời kỳ dử dội nhất cho nên trường bổ túc văn hóa miền xuôi, trường Đoàn tạm thời giải thể. Hoạt động giáo dục trước tình hình đó tạm ngừng một thời gian để củng cố tổ chức, chuyển sang giai đoạn chiến tranh. Trường lớp phổ thông, bổ túc văn hóa đều phải dành làm kho tàng, năm học phổ thông bị dỡ dang. Một số cán bộ của ngành được chỉ định đã hăng hái lên đường ra Bộ tiếp thu các chuyên đề chính trị và nghiệp vụ. Đường trường, bom đạn, phương tiện chỉ là xe đạp nhưng anh em đã đi về an toàn mạnh khỏe. Số ở lại bắt tay chuẩn bị cho năm học mới. Trường lớp phải chuyển đến các hầm lán, có sàn chống bom bi, có hầm hào đầy đủ. Các lớp mẫu giáo cũng được tổ chức lại và cùng phân tán để có điều kiện phòng tránh tốt. Sau những tháng học tập nghiệp vụ trong hè phân tán ra nhiều cụm, ngành phổ thông và mẫu giáo bước vào năm học. Do tình hình chiến tranh vô cùng ác liệt, thực hiện chỉ thị của Bộ và của Ủy ban Hành chính khu vực, các trường chưa khai giảng nhưng vẫn tổ chức ôn tập phân tán theo tổ nhóm, hoàn thành chương trình năm cũ. Đến giữa tháng 11 năm 1972 các trường chính thức khai giảng và khẩn trương thực hiện kế hoạch năm học theo sự hướng dẫn của Bộ. Các lớp học phân tán dưới các lán nhưng các hoạt động thể dục thể theo, lao động vẫn được tiến hành. Tháng giêng năm 1973 địch ngừng ném bom, trường phổ thông  vừa giảng dạy vừa chuyển lên mặt đất. Với sự gíup đỡ của nhân dân, thầy trò chỉ trong một thời gian ngắn đã về các lớp mới, dạy và học trong không khí  hòa bình phấn khởi. Mặt khác nhà trường đã cùng với nhân dân chuẩn bị đón tiếp hơn 14.000 học sinh phổ thông và vỡ lòng ở Tân Kỳ về. Công việc dồn dập, anh chị em giáo viên làm việc không kể ngày đêm. Các trường tăng số lượng nhanh chóng, học sinh K10 về, có xã chỉ nghỉ vài ba ngày là vào học ngay; những xã có khó khăn cũng chỉ 15 ngày đến 20 ngày đều học được. Ngày hai buổi học sinh tung tăng đến trường, vui cười hớn hở làm cho thôn xóm thêm đầm ấm và yên lành.. Vừa sắp xếp lại đội ngũ, vừa kiểm tra tiến độ chương trình, năm học 1972-1973 của Vĩnh Linh đã kết thúc tốt theo đúng thời hạn của Bộ. Kỳ thi hết cấp I lần đầu tiên được tổ chức lại trên quê hương đã diễn ra gọn gàng nghiêm túc, phản ánh đúng kết quả học tập của các em.  Cũng trong thời kỳ này, hàng vạn đồng bào Triệu Phong ra Vĩnh Linh đang có nhu cầu học tập nhất là thanh toán mù chữ. Giáo viên chuyên trách đã tham gia phong trào xóa mù chữ, đặc biệt đã giúp Triệu Phong dạy cho hơn 250 cán bộ thôn, xã, huyện lên 1 hoặc 2 lớp và tham gia bồi dưỡng hai khóa giáo viên. Mặt khác để phục vụ yêu cầu học tập của cán bộ xã, thực hiện chủ trương của Ty Giáo dục Vĩnh Linh đã triển khai các lớp học bổ túc văn hóa tập trung tại xã, từ cuối năm 1972 đến cuối 1973. Trường Bổ túc văn hóa, trường Thanh niên dân tộc đã có sự phấn đấu rất tốt trong thời kỳ này. Miền núi Vĩnh Linh trong năm 1972 là điểm đánh phá ác liệt nhất , thế nhưng trường đã vượt qua mọi khó khăn, mọi thử thách, thầy trò đùm bọc nhau giữa tình thương của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô. Chỉ trong năm 1972 (từ tháng 6 đến tháng 10 ) trường đã phải dời địa điểm 4 lượt. Có lúc B52 địch đánh ngay vào khu trường, nhưng do tổ chức phòng tránh tốt nên được đảm bảo an toàn ì. Mỗi lần di chuyển lại dựng lán, làm nhà, đào hầm hố. Giặc đánh phá ác liệt, đường đi lại ở miền rừng hiểm trở thế nhưng trường đã lo việc ăn ở cho hơn 125 người tương đối tốt. Có thể nói đây là một tập thể kiên cường, bám trụ vững chắc trên địa bàn miền núi, sống chết có nhau, không sợ gian khổ hy sinh, quyết đem ánh sáng văn hóa và kỹ thuật đến cho cán bộ và  nhân dân  Vân Kiều, Pa Kô. Bí thư chi bộ - Hiệu trưởng Nguyễn Sư Hóat và tập thể sư phạm nhà trường là một tập thể điển hình tiêu biểu.
 Trong những năm ác liệt này, đội ngũ cán bộ ở cơ quan Ty Giáo dục khu vực Vĩnh Linh đã tỏ ra xứng đáng là cơ quan lãnh đạo chỉ đạo của ngành. Cơ quan Ty là một trong những nơi giặc đánh phá thường xuyên, cán bộ của Ty vẫn tích cực tổ chức việc phòng tránh tốt, tạo điều kiện giúp đỡ triển khai nhiệm vụ của ngành. Ở đâu cần là có mặt các đồng chí dù nơi đó là miền núi, nơi đoạn đường nhiều bom đạn, dù nơi đó là bất cứ xã nào thường xuyên giặc đánh phá; và lúc cần thiết phục vụ chiến đấu, phục vụ chiến trường, các đồng chí đã lên đường không chút tính toán, không chút suy nghĩ riêng tư ngoài ý nghĩ duy nhất là có mặt ngay khi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cần đến. Những lúc có chuyên đề cải tiến giảng dạy từ Bộ chuyển về, Ty Giáo dục Vĩnh Linh cử các chuyên viên giỏi như Thái Tăng Ly, Hoàng Hùng Anh, Đoàn Uy vào trực tiếp phổ biến cho anh chị em giáo viên ở các huyện bờ Nam mới giải phóng.
 Phục vụ sự nghiệp giáo dục trên địa bàn Vĩnh Linh - nơi đã xẩy ra hai lần chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mĩ, nơi trực tiếp  với miền Nam, với Quảng Trị thân yêu. Vĩnh Linh còn có nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, phục vụ tiền tuyến, phục vụ quê hương rất nặng nề nhưng rất vinh quang.
 Ngay trong thời kỳ hòa bình trước năm 1965 ngành Giáo dục Vĩnh Linh là một lực lượng quan trọng tham gia đấu tranh cho quan hệ hai miền một cách tích cực, lúc xẩy ra chiến tranh anh chị em, cán bộ, giáo viên  được sự giáo dục của Đảng bộ, đã sẵn sàng phục vụ chiến đấu, phục vụ tiền tuyến. Các đội tự vệ của Ty, trường cấp III, trường bổ túc văn hóa đã chiến đấu trong những trận địch đánh phá vào khu vực Vĩnh Linh. Giáo viên ở các trường đều tham gia đội ngũ dân quân ở địa phương. Nhiều giáo viên tham gia giải quyết hậu quả chiến đấu, tải thương binh, chôn cất những chiến sĩ hy sinh do bom đạn địch, tham gia cứu chữa nhân dân khi địch đánh hủy diệt . Gíáo viên ở Vĩnh Thái, Vĩnh Thạch, Vĩnh Quang tham gia tuần tra canh gác bờ biển . Các giáo viên ở miền núi tham gia truy lùng biệt kích... trong các đợt điều động vận chuyển đạn dược cho tiền tuyến, vận chuyển thóc gạo, đào đường dẫn dầu, đào giao thông hào, địa đạo liên thôn liên xã . Những giáo viên được gọi là có ngay với đủ các phương tiện dụng cụ qui định và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Trong những năm 1965, 1966 do yêu cầu công tác chính trị và công tác giáo dục của Quảng Trị, hơn hai chục giáo viên đã lên đường đi B chi viện cho giáo dục vùng giải phóng Quảng Trị. Một số giáo viên đã hy sinh sau những đợt chiến đấu dũng cảm.  Những đồng chí còn lại đã trưởng thành và hiện nay là những cán bộ chủ chốt, có tín nhiệm của xã, của huyện, của các ngành, của tỉnh. Lúc Quảng Trị vừa được giải phóng, một số đồng chí chúng ta đã lên đường tham gia xây dựng giáo dục vùng giải phóng. Gần 20 đồng chí khác đang giảng dạy con em ta ở các tỉnh cũng đã lên đường trong đợt đầu gọi tên của Bộ đi phục vụ giáo dục Quảng Trị. Tinh thần sẵn sàng vì miền Nam ruột thịt, vì quê hương Quảng Trị thân yêu đó là niềm tự hào rất lớn của đội ngũ giáo viên Vĩnh Linh.
 Năm học 1973-1974 miền Bắc đã có hòa bình, nhân dân khu vực Vĩnh Linh sum họp, ngành Giáo dục Vĩnh Linh cũng được sum họp sau nhiều năm tạm thời phân tán xa cách. Ngành Giáo dục phát triển một cách đột xuất - cùng lúc, sau khi đón hơn 14000 học sinh K10, ta đón thêm hơn 10.000 học sinh K8. Một lúc các ngành học được hình thành một cách hoàn chỉnh, trong lúc đó bộ máy từ Ty đến cơ sở mới tổ chức lại, trong lúc cơ sở vật chất cho dạy và học đã bị phá hủy hoàn tòàn,  bắt đầu xây dựng lại. Thế nhưng chỉ trong thời gian 4 đến 5 tháng toàn khu vực Vĩnh Linh đã dựng được 363 phòng học, gần 100 nhà ở, nhà làm việc cho cán bộ, giáo viên, đóng mới hơn 500 bộ bàn ghế học sinh... số lượng trên đây chưa nhiều lắm, chưa thật đủ nhưng được xây dựng trong hoàn cảnh tàn phá nặng nề, trong hoàn cảnh nhân dân và Nhà nước phải lo làm hàng ngàn ngôi nhà ở, cơ quan làm việc thì rõ ràng đây là một vấn đề lớn, tốn nhiều công sức, phải có  quyết tâm cao mới làm được.Và cũng chính nhờ sự cố gắng đó, giáo dục Vĩnh Linh đã khai giảng kịp trong tháng 9/1973, chỉ chậm hơn các tỉnh bạn 1 tuần . Thầy và trò từ nhiều địa phương tập hợp lại còn nhiều bỡ ngỡ nhưng  đã chấp hành chỉ thị của Bộ lấy khâu trí dục là khâu trung tâm thúc đẩy mọi hoạt động của nhà trường. Các nền nếp dạy và học được nghiên cứu và tổ chức thực hiện, các đợt thực tập từ trường đến cụm của cấp I và cấp II, trong phạm vi từng trường của cấp III đã tạo được những chuyển biến bước đầu đi vào chất lượng.
 Tháng 7 năm 1973, Ủy ban khuc vực Vĩnh Linh ra quyết định thành lập trường cấp IIIB (THPT Cửa Tùng ngày nay) mở ra cơ hội lớn lao cho tuổi trẻ Vĩnh Linh được đến trường. Ngành Giáo dục Vĩnh Linh đi vào thời kỳ phát triển mới trong điều kiện và hoàn cảnh vô cùng khó khăn, mất mát đau thương chồng chất, bên kia dòng sông Thạch Hãn tiếng súng khói lửa của chiến tranh còn bùng cháy... Lần nữa người Vĩnh Linh phải vượt qua đau thương mất mát, ổn định cuộc sống cắm lại ngọn cờ Hiền Lương, ngọn cờ Hai tốt trên tuyến lửa anh hùng. Tiếp tục chi viện cho Quảng Trị, chi viện cho miền Nam ruột thịt thống nhất Tổ quốc theo lời đề tặng của  Bác Hồ:
 Đánh cho giặc Mỹ tan tành
 Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng.(1)

----------------------------------------

(1) Thư khen quân và dân Vĩnh Linh. Báo Nhân dân số 5234 ngày 11/8/1968

Thông tin khác
LỊCH CÔNG TÁC THÁNG
KẾ HOẠCH THÁNG 3/2012
[3/9/2012 2:57:31 PMthptphanchautrinhqt]
KẾ HOẠCH THÁNG 2/2012
[1/31/2012 9:48:42 AMthptphanchautrinhqt]
KẾ HOẠCH THÁNG 1/2012
[12/30/2011 4:35:15 PMthptphanchautrinhqt]
KẾ HOẠCH THÁNG 12 NĂM 2011
[11/26/2011 10:05:12 AMthptphanchautrinhqt]
KẾ HOẠCH THÁNG 11 NĂM 2011
[10/28/2011 4:50:24 PMthptphanchautrinhqt]
LỊCH CÔNG TÁC THÁNG 10 NĂM 2011
[9/24/2011 1:59:17 PMthptphanchautrinhqt]
KẾ HOẠCH THÁNG 9 NĂM 2011
[8/30/2011 3:33:32 PMthptphanchautrinh]
VĂN BẢN PHÁP QUY
Tin xem nhiều nhất
DANH MỤC THƯ VIỆN
GIÁO ÁN LỚP 11- CÔ H. HƯƠNG
Giáo án chuyên đề đổi mới PPDH - tổ tự nhiên
Giáo án chuyên đề đổi mới PPDH - tổ tự nhiên
Một số mẫu giáo án đẹp
Bộ phần mềm tạo trò chơi ô chữ
Bộ phần mềm dạy hoc Mầm non
Hướng dẫn sử dụng Phần mềm MCMix
Phần mềm MCMic
Phần mềm Ghi đĩa CD
Phần mềm chuyển đổi từ Word sang PdF và ngược lại
LIÊN KẾT NHANH

Bản quyền thuộc Trường THPT Phan Châu Trinh, Quảng Trị
Địa chỉ:Km 2, Quốc Lộ 9, TP Đông Hà Quảng Trị
Thiết kế- xây dựng: Nguyễn Phong, Hồ Sỹ Anh Tel:0533555393- 0905609111,